Sự kết hợp của các công nghệ in khác nhau, được sử dụng để gia tăng giá trị sản phẩm. Công nghệ kết hợp các kỹ thuật in khác nhau, trong một dây chuyền sản xuất được gọi là hệ thống in lai ghép. Chúng có thể bao gồm các kỹ thuật in truyền thống khác nhau như in offset, flexo hoặc ống đồng kết hợp trong một hệ thống in. Với mực in khác nhau, nguyên lý in khác nhau, khi các lớp mực chồng lên nhau, kết quả sẽ như thế nào?
Prima.vn xin giới thiệu với bạn đọc một nghiên cứu dưới đây, để chúng ta có một cách nhìn toàn diện hơn về ink trapping khi in các loại mực có tính chất khác nhau trong hệ thống in lai ghép .
Hệ thống in lai ghép giữa các kỹ thuật in truyền thống với nhau, chủ yếu sử dụng sự kết hợp của in offset và in flexo. Với sự kết hợp của hai kỹ thuật này đã cải thiện rất lớn đến chất lượng của sản phẩm in, tăng năng xuất, giảm hao phí.
Trong lĩnh vực in Bao bì, đòi hỏi ngày càng sử dụng nhiều loại mực và hiệu ứng tráng phủ đặc biệt, các loại chất tráng phủ này không thể in bằng tiêu chuẩn của kỹ thuật in offset. Sự kết hợp các đơn vị in offset và flexo trong một hệ thống in là một giải pháp tốt cho việc in nhãn hàng và bao bì chất lượng cao.
Khác biệt lớn nhất của Mực in flexo và mực in offset là về tính lưu biến. Mực Flexo là loại mực lỏng và mực in offset là loại mực có độ nhớt cao, còn gọi là mực “sệt”. Liên quan đến các loại mực khác nhau, được sử dụng trong hệ thống lai ghép là vấn đề lớn cần giải quyết, đặc biệt là khi chúng được in với nhiều quy trình khác nhau.
Tính giá trị Ink TrappingTrapping được định nghĩa là khả năng (hoặc không có khả năng) của lớp mực in sau bám vào lớp mực đã in trước đó. Mức độ chấp nhận mực tốt đối với các loại mực phụ thuộc vào tính lưu biến (độ nhớt và độ dính), độ dày màng mực và thứ tự màu in. Sự thay đổi về thứ tự, dẫn đến thay đổi giá trị màu và do đó ảnh hưởng đến độ chính xác tái tạo hình ảnh.
Hệ thống in lai ghép có thể được mô phỏng bằng cách kết hợp các đơn vị in offset và flexo trong phòng thí nghiệm. Các tờ in trong phòng thí nghiệm được tạo ra bằng cách in chồng một lớp mực in offset đồng nhất trên lớp mực in flexo. Với quy trình này, có thể tạo các màu thứ cấp (RGB) và đo lường được.
Các tờ in có được bằng cách chồng hai màu mực in offset, cũng như hai màu mực in flexo, được sử dụng làm giá trị tham chiếu (gọi là tờ in tiêu chuẩn) để so sánh với tờ in lai ghép.
Bên cạnh việc tính giá trị ink trapping, chúng ta cũng đánh giá sự khác biệt màu (ΔEab) các giá trị L* a* b* đo được từ các mẫu được in lai ghép và các tờ in tham chiếu.
[membersonly display=" Vui lòng đăng nhập để xem chi tiết và tham gia bình luận. Xin cám ơn " linktext="Đăng nhập"]
Phương pháp đo lườngMực Flexo được in bằng thiết bị K Hand Coater. Đối với mực in flexo, sử dụng K Bar số 1. Mực in offset được in bằng thiết bị kiểm tra khả năng in IGT A2, thiết bị này mô phỏng máy in offset. Tốc độ in là 125 cm/s và lực ép in là 350 N. Dung dịch làm ẩm được sử dụng trong quá trình in offset được mô phỏng trong phòng thí nghiệm.
Ngay sau khi mực in flexo bám lên vật liệu in, mực in offset đã được in chồng lên lớp mưc này, để đạt được chồng màu mực theo kiểu ướt chồng ướt.
Độ dày của lớp mực gần như bằng nhau. Chính xác 1cm3 mực in offset được dàn mỏng trên máy in thí nghiệm IGT, độ dày lớp mực flexo theo trục Anilox của K Bar 1. Trên tờ in độ dày của lớp mực in offset là 8 µm, độ dày của lớp mực in flexo là 6 µm.
Vì hai kỹ thuật in kết hợp trong hệ thống in lai ghép, sử dụng các loại mực in khác nhau về tính lưu biến và tính chất khô của chúng. Các tờ in được thực hiện trên hai loại vật liệu in khác nhau. Vật liệu in được dùng trong thì nghiệm này là giấy offset (có tráng phủ) và giấy liner (giấy dùng cho bao bì carton). Các đặc điểm của vật liệu được sử dụng trong bảng dưới: Các đặc tính của các loạigiấy.
| Loại giấy | Độ dày | Định lượng | Độ thấm hút/cobb 120 | Độ nhám/bendtsen |
| Giấy in offset | 0,117 | 90 gsm | 50 g/m2 | 200 ml/min |
| Giấy in flexo (liner) | 0,180 | 140 gsm | 35 g/m2 | 601 ml/min |
Mực in offset được sử dụng trong thí nghiệm này là mực gốc dầu thực vật, không chứa dầu khoáng. Độ nhớt của mực 45-50 Pa s. Mực in offset là loại mực có độ dính cao, khô bằng quá trình oxy hóa và quá trình thấm hút của giấy.
Mực in flexo được sử dụng trong thí nghiệm này là mực in gốc nước. Loại mực này có độ nhớt thấp và gần như khô ngay lập tức trên giấy do tính hấp thụ. Độ nhớt của mực in flexo được sử dụng là 40-60 giây F4.
Các giá trị đo mật độ và quang phổ được đo trên các tờ in trong phòng thí nghiệm bằng thiết bị X-Rite Color Digital Swatchbook. Các giá trị của ink trapping hai màu được tính bằng phương trình Preucil, từ các giá trị đo mật độ tông nguyên CMY và các vùng chồng màu M + Y (Red), C + Y (Green) và C + M (Blue).
Giá trị L*a*b* của các màu, sự khác biệt về màu (ΔEab) giữa tờ in lai ghép và tờ in tham chiếu offset và flexo. Sự khác biệt về màu sắc (ΔEab) được tính toán dựa trên công thức: ![]()
Mô tả sự khác biệt về màu sắc giữa các tờ in lai ghép và tờ in tham chiếu, các giá trị đo màu a* và b* được biểu thị bằng cách sơ đồ CIE a * b *.
Kết quảCác giá trị ink trapping, được biểu thị dưới dạng trung bình cộng của 10 phép đo, được trình bày trong biểu đồ từ 1 đến 3. Các giá trị ink trapping đối với các kỹ thuật in khác nhau trên mỗi biểu đồ được trình bày riêng biệt cho giấy in offset và giấy liner.
Biểu đồ 1: Tham chiếu flexo
Giá trị của chồng màu ướt/ướt của tờ in flexo được trình bày trong Biểu đồ 1. Những kết quả này được sử dụng làm giá trị tham chiếu flexo để so sánh với các tờ in lai ghép.Từ kết quả đo có thể thấy rằng giá trị ink trapping cao nhất được đo trên ở màu Green (C+Y), tiếp theo là các tờ in màu Blue (C+M) và màu Red (M+Y). Xu hướng tương tự cũng diễn ra ở cả hai loại vật liệu in. Giá trị của ink trapping khi in flexo trên giấy in offset cao hơn một chút.
Biểu đồ 2: Tham chiếu Offset
Các giá trị của ink trapping ướt chồng ướt của các tờ in offset được mô tả trong Biểu đồ 2. Các kết quả này được sử dụng làm giá trị tham chiếu offset để so sánh với các tờ in lai ghép. Từ kết quả đo có thể thấy rằng giá trị ink trappng cao nhất đạt được trên các tờ in Green (C+Y), tiếp theo là các tờ in màu Blue và màu Red tương ứng. Các tờ in offset cũng gần như đồng nhất với các tờ in flexo nhưng giá trị ink trapping của chúng thấp hơn các tờ in flexo một chút, ngoại trừ các màu Red của tờ in offset có giá trị ink trapping cao hơn.
Biểu đồ 3: tờ in lai ghép flexo-offset.
Các giá trị ink trapping của các mẫu in lai ghép, thực hiện bằng cách in chồng mực in offset lên mực in flexo khi cả hai còn ướt, được trình bày trong Biểu đồ 3. Các giá trị ink trapping được đo tuân theo cùng xu hướng với kết quả ink trapping của các mẫu tham chiếu. Giá trị ink trapping cao nhất được đo trên các tờ in màu Green, tiếp theo là màu Blue và màu Red tương ứng.
Giá trị ink trapping của tờ in lai ghép màu Green và Blue cao hơn đáng kể so với giá trị ink trapping được đo trên tờ in tham chiếu offset và flexo. Giá trị ink trapping của các tờ in lai ghép màu Red gần như bằng với tờ in màu Red trên tờ in tham chiếu flexo.
Khi xem xét các giá trị ink trappng của các tờ in màu Green, Blue và Red liên quan đến vật liệu in đã, có thể thấy rằng các giá trị ink trappng cao nhất đã đạt được trên loại giấy in offset (giấy tráng phủ). Các giá trị ink trappng được đo trên giấy liner thấp hơn, do loại giấy liner có khả năng hấp thụ mực và độ nhám bề mặt cao hơn.
Đồ thị 4 (bên trái): ΔE offset -offset so với flexo+offset; Đồ thị 5 (bên phải): ΔE flexo - flexo so với flexo+offset
Đồ thị 4 và 5 trình bày sự khác biệt về màu sắc (ΔEab) giữa các tờ in lai ghép và các giá trị tham chiếu flexo và offset. Sự khác biệt về màu sắc cao nhất giữa tờ in lai ghép và tờ in flexo tham chiếu là màu Blue, được nhận thấy trên cả hai loại vật liệu. Sự khác biệt về màu sắc giữa tờ in lai ghép và tờ in tham chiếu offset nhỏ hơn so với sự khác biệt giữa tờ in lai ghép và tờ in tham chiếu flexo.
Biểu đồ 6 (bên trái) giá trị CIE a*b* màu Red; Biểu đồ 7 (giữa) giá trị CIE a*b* màu Green; Biểu đồ 8 (bên trái) giá trị CIE a*b* màu Blue
F: Tham chiếu in flexo trên giấy in offset
O: Tham chiếu in offset trên giấy in offset
H: in lai ghép trên giấy in offset
F’: Tham chiếu in flexo trên giấy in liner
O’: Tham chiếu in offset trên giấy in liner.
H’: in lai ghép trên giấy in liner
Trong đồ thị từ 6 đến 8, trình bày các giá trị so sánh màu a* và b* của các màu chồng: đỏ (M + Y), xanh lá cây (C + Y) và xanh lam (C + M). Các biểu đồ cho thấy giá trị đo màu a* và b* của các tờ in lai ghép rất giống với các tờ in tham chiếu offset, trong khi các tờ in tham chiếu flexo có sự cách biệt lớn với giá trị a*và b* màu xanh Green và Blue.
Kết luậnTừ kết quả, có thể kết luận rằng ink trappng ảnh hưởng bởi độ nhám bề mặt của vật liệu in – Xém xét tất cả các tờ in, được in trên giấy liner, đều có giá trị ink trappng thấp, loại giấy này có bề mặt thô nhám hơn nhiều so với giấy offset.
Các tờ in lai ghép được in bằng sự kết hợp các loại mực có độ nhớt khác nhau, đã tạo ra giá trị in trapping cao hơn so với các tờ in tham chiếu offset và flexo. Có thể nói rằng, các tờ in lai ghép, có giá trị ink trapping tốt hơn các tờ tham chiếu.
Sự khác biệt về màu giữa tờ in lai ghép (ΔEab) nhỏ hơn so với tờ in tham chiếu offset. Điều này đã được xác nhận trong các đồ thị CIE a* b*. Các giá trị đo màu a* và b* của các tờ in lai ghép và các tờ in tham chiếu offset nằm cạnh nhau. Trong khi màu chồng của tờ tham chiếu in flexo xa nhau với khoảng cách lớn.
Tham khảo: [1] https://www.academia.edu/6530035/INK_TRAPPING_IN_HYBRID_PRINTING_TECHNOLOGY [2] D’Heureuse W., Kipphan H. (2001), Print Technologiesand Design Concepts for Hybrid Printing Systems, DDP2001. Xem các bài liên quan [3] https://prima.vn/he-thong-in-lai-ghep-tieu-diem-cua-nhan-hang/. [4] https://prima.vn/nhung-nguyen-tac-in-chong-mau-ink-trapping/ [/membersonly]