THỊ TRƯỜNG IN XUẤT KHẨU
Tác giả: NTD
- TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG IN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
- Tổng giá trị in năm 2017: In thương mại 3.7 tỷ USD, in bao bì hơn 5.7 tỷ USD trong đó riêng xuất khẩu chiếm 1.76 tỷ USD. Đến năm 2019, giá trị xuất khẩu của ngành I Thái Lan đã đạt trên 2 tỷ USD
- Nhà in thương mại: khoảng 5000, nhà in bao bì:
- Nhập khẩu sản phẩm in 1.4 tỷ USD
- Tiêu thụ giấy đầu người 60 kg
- CÁC YÊU CẦU CỦA THỊ TRƯỜNG IN XUẤT KHẨU VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA NHÀ IN
Hình 1: Khái quát các yêu cầu đối với nhà cung ứng bao bì cho hàng hóa vào hệ thống các siêu thị Mỹ.[/caption]
Các tiêu chí “Level of Service - Mức độ đáp ứng”, “Partnership - Hợp tác” và “Sustainability & Social Responsibility – Phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội” là những điều kiện cần. Thỏa mãn tất cả các tiêu chí là điều kiện đủ.
Các nhà In ở Việt Nam thường rất tự hào quảng cáo về năng lực sản xuất, trình độ công nghệ, trang thiết bị hiện đại và chất lượng sản phẩm xuất sắc. Tuy nhiên chúng ta lại không có minh chứng cho những tiêu chí này ngoài việc cho khách hàng thấy là nhà xưởng rất rộng, máy móc mắc tiền và hiện đại! Ngoài giá thành sản phẩm ra, tất cả các tiêu chí trên cần có sự chứng nhận của bên thứ ba thông qua các hệ thống kiểm định và cấp chứng chỉ. Việc lấy các chứng chỉ phải được coi như sự công nhận năng lực và khả năng của đơn vị và được áp dụng vào thực tế sản xuất hàng ngày. Đây là một thực tế vì giao được hàng hay không phụ thuộc vào việc chúng ta có tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, yêu cầu thể hiện qua các chứng chỉ. Để làm rõ hơn chúng ta sẽ đi vào chi tiết từng yêu cầu.
2.1 Level of Service – Mức độ đáp ứng
“Cost - Giá” là yếu tố thuần túy thương mại. Dù xuất khẩu hay nội địa thì khách hàng luôn tìm kiếm giá tốt. Có thể thấy tỷ xuất lợi nhuận của in xuất khẩu cao hơn nội địa nhưng nó tồn tại khả năng trả hàng rất cao nếu chúng ta không tuân thủ các quy định. Ba tiêu chí: Giá – Giao hàng đúng hạn - Chất lượng là các tiêu chí được đánh giá định kỳ thường là hàng quý. Tùy theo mức đạt được chúng ta sẽ được dồn nhiều đơn hàng hơn hay chấm dứt đặt hàng. Các chương trình đánh giá này được các công ty kiểm định bên thứ ba tiến hành và phụ thuộc vào chủ sở hữu nhãn hiệu. Nó rất khác nhau giữa các hệ thống.
2.2 Quality – Chất lượng in
Chất lượng in ở đây được hiểu là sản phẩm in thỏa mãn các các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế, có thể đo đạc được và đánh giá khách quan. Phần quan trọng hơn trong vấn đề chất lượng này là chúng ta có một hệ thống QA & QC để đảm bảo chất lượng này hay không. Một nhà in có khả năng in đạt chất lượng và có hệ thống quản lý chất lượng phù hợp phải được đánh giá và kiểm định bởi bên thứ 3. Trong trường hợp xuất khẩu vào Mỹ nhà In cần phải có chứng chỉ GMI - Graphic Measures International.
Chứng chỉ GMI trong ngành in giống như giấy phép hành nghề hay giấy thông hành để tham gia vào chuỗi cung ứng. Khi có GMI – khách hàng trong hệ thống sẽ tự tìm đến nhà In. Tuy nhiên nhà In có in được cho họ hay không lại là câu chuyên khác. Hầu như tất cả các thương hiệu lớn đều dựa trên cơ sở GMI để đánh giá chất lượng in và dùng GMI để giải quyết các tranh chấp về chất lượng in. Trên thế giới có khoảng gần 1000 nhà in có GMI trong đó Trung Quốc chiếm hơn 300. Tại Việt Nam, số nhà in có GMI có thể đếm trên đầu ngón tay, ngoại trừ Huynh Đệ Anh Khoa là công ty 100 % Việt Nam, tất cả doanh nghiệp có GMI đều là các công ty FDI như Avery Dennison, CCL, Star Print…
[caption id="attachment_5797" align="aligncenter" width="926"]
Hình 2: Quá trình kiểm định GMI[/caption]
Việc lấy chứng chỉ GMI rất công phu và Huynh Đệ Anh Khoa đã mất 6 tháng làm việc với cường độ cao để chuẩn bị trên nền tảng là đã có chứng chỉ PSO – ISO 12647- 2 của Fogra và ISO 9001-2015.
Khác với việc lấy chứng nhận G7 Master hay ISO 12647-2 việc lấy chứng chỉ GMI cần có đầu tư lớn và nó xuất phát từ đòi hỏi của chủ hàng. Nhiều khách hàng chỉ quan tâm rằng nhà in có hay không có GMI và quá trình in hay QA & QC có thực hiện theo tiêu chuẩn GMI?
2.3 Partnership – hợp tác
Một trong những rào cản khi làm việc với các chủ hàng quốc tế là ngôn ngữ. Các nhân viên thương mại, các nhân viên điều hành sản xuất, QA/QC và các kỹ sư in – bao bì của công ty In phải thông thạo tiếng Anh để phụ trách các khách hàng cụ thể. Luôn luôn có vấn đề phát sinh – tiêu chí quan trọng nhất là thời gian phản ứng và cách giải quyết vấn đề thể hiện tinh thần hợp tác.
Lầm việc trong môi trường thế giới phẳng và Internet cho nên doanh nghiệp phải được số hóa sâu rộng với mục đích dữ liệu luôn sẵn sàng cho việc truy cập, truy xuất, thống kê, theo dõi ...
2.4 Sustainability & Social Responsibility – Phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội
Ngoài các tiêu chí về Chất lượng, Giá thành, Khả năng hợp tác, doanh nghiệp in phải thỏa mãn các tiêu chí về phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội. Câu chuyện lại lặp lại với việc kiểm định và lấy chứng chỉ của SA 8000, ICTI, SMETA hay... Khi thực thi các chứng chỉ này chúng ta đã tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về điều kiện sản xuất, sử dụng lao động, quyền lợi người lao động và việc tuân thủ luật pháp. Chất lượng nguyên vật liệu đầu vào được quy định bởi các chứn chỉ như FSC với nguyên liệu giấy được sản xuất từ rừng tái tạo…
Việc in bao bì xuất khẩu vào một thị trường rất tiềm năng là Mỹ đòi hỏi doanh nghiệp phải tự mình thay đổi phương cách sản xuất, quản lý và cách tiếp cận khách hàng. Xây dựng doanh nghiệp của mình ngang tầm các đối thủ cạnh tranh trong chuỗi cung ứng và duy trì nó theo thời gian. Để không thua ngay trên sân nhà và thị trường lọt vào tay các doanh nghiệp FDI ngành In Việt nam cần có các doanh nghiệp nội địa thật sự hướng tới xuất khẩu. Con đường đơn giản nhất là tổ chức sản xuất và có hệ thống chứng chỉ giống như các doanh nghiệp FDI.
Chứng chỉ GMI đóng một vai trò vô cùng quan trọng vì nó quyết định năng lực nhà in trong lĩnh vực chất lượng và bảo đảm chất lượng. Việc lấy chứng chỉ GMI dẫn đến việc tổ chức sản xuất và quy trình kiểm phẩm phải đạt tiêu chuẩn quốc tế và hơn hết nó phải được ứng dụng trên từng đơn hàng xuất khẩu. Trong thời gian qua nhiều nhà in đã lấy các chứng chỉ ISO 12647-2 hay G7 nhưng đó là những chứng chỉ về khả năng in đạt chất lượng chứ không phải chứng chỉ có hệ thống bảo đảm chất lượng. Đó là điểm khác biệt lớn nhất giữa GMI với ISO 12647 hay G7.
Tổ chức lại sản xuất, lấy các chứng chỉ cần thiết là những việc cần làm nếu muốn khai thác thị trường in Xuất khẩu. Một thị trường nhiều tiềm năng mà chúng ta chưa khai phá.
3. KẾT LUẬN
Thị trường in xuất khẩu là lối ra cho các doanh nghiệp Việt Nam, nó không chỉ giảm bớt áp lực cạnh tranh cho thị trường In nội địa vốn đã bão hoà mà còn mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp xét trên các phương diện phát triển nguồn lực, hệ thống quản trị sản xuất, trình độ ứng dụng công nghệ cũng như đưa ngành In Việt Nam phát triển lên một trình độ được thế giới công nhận.
Có thể nói những nhà in xuất khẩu hiện nay là những người đi tiên phong và dũng cảm đón nhận những rủi ro từ một thị trường hoàn toàn mới. Họ là những doanh nhân Việt Nam mang tinh thần Việt Nam đi cạnh tranh với tất cả các Nước có ngành công nghiệp mạnh nhất trên thế giới. Để có thể tham gia thị trường in xuất khẩu, các nhà in Việt nam phải thoả mãn các yêu cầu sau:
- Chất lượng in đạt tiêu chuẩn quốc tế với hệ thống chứng chỉ nghiêm ngặt được các công ty đánh giá lớn của thế giới chứng nhận.
- Có hệ thống quản trị sản xuất mang tầm vóc toàn cầu và được chứng nhận quốc tế.
- Thông thạo “luật chơi” quốc tế. Đảm bảo các chính sách trách nhiệm xã hội, tuân thủ nghiêm ngặt luật pháp Việt nam và từng Nước mà họ muốn xuất khẩu hàng hoá vào.
- Được chứng nhận tuân thủ các điều kiện môi trường và phát triển bền vững.
- Có khả năng tạo ra các sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng với các qui trình và thiết bị kiểm định nghiêm ngặt.
- Được thử thách và được công nhận, nằm trong chuỗi cung ứng toàn cầu của các tập đoàn lớn trên thế giới.
- Giá cả cạnh tranh và thắng thầu quốc tế….