|
Trang 1 / 2 Xu hướng phát triễn của công nghiệp in nói chung và in bao bì nói riêng rõ ràng đang hướng về in năm, sáu hoặc nhiều màu, cũng như tráng phủ trong cùng một lượt qua máy. Ngày càng nhiều các nhà in đầu tư máy in tờ rời nhiều màu có sẵn đơn vị tráng phủ nhằm thay thế các công đoạn phức tạp phải gia công bên ngoài hoặc phải in đi in lại nhiều lần.
Các sản phẩm in ngày nay đòi hỏi phải thực hiện công đoạn tráng phủ để bảo vệ, hoàn tất sản phẩm nhanh hơn,lớp mực in phải dày hơn để tạo các hiệu ứng đặc biệt. Vật liệu in cho offset tờ rời ngày càng đa dạng, phải in trên các vật liệu không thấm hút, plastic hoặc giấy metallise. Do các thách thức trên, kỹ thuật in offset truyền thống không còn đáp ứng đủ, đòi hỏi phải kết hợp với kỹ thuật in flexo trên các đơn vị tráng phủ.
Bài dịch sau sẽ giới thiệu đến các bạn một vài khái niệm về đặc tính của chất tráng phủ gốc dầu, gốc nước cùng các ưu và nhược điểm của mỗi loại, đặc biệt là phương pháp gia công, cách tiến hành các phép đo đạt và những lưu ý khi dùng tráng phủ gốc nước trên đơn vị tráng phủ kết hợp với kỹ thuật in flexo.
1.Chất tráng phủ (Verni) gốc dầu
Thành phần của verni gốc dầu về cơ bản giống mực in offset (75% thành phần cấu tạo cũng như khô theo nguyên lý thấm hút và oxy hóa). Do verni này dùng để tạo lớp phủ có độ trong suốt cao ít bị nhiễm màu, nên các nguyên liệu sử dụng phải là loại chất lượng cao. Có thể phủ verni toàn phần không cần dung dịch làm ẩm ( dùng giấy lót cao su cùng khổ với tờ in) trong trường hợp phủ cục bộ thì dùng bản in bình thường và cần phải chà ẩm.
Ưu điểm
• gia công đơn giản như mực in offset thường
• thấm hút tốt
• có thể dùng bản in bình thường
• bảo vệ chống ẩm tốt
• không bốc mùi dung môi
• lớp verni dễ gia công (không biến dạng khi gấp).
Nhược điểm
• độ dày lớp verni thấp
• nguy cơ bị hiện tượng yellowing
• khô chậm
• cần phải phun bột nhiều
• chồng giấy ra thấp
• có thể ảnh hưởng đến mùi vị khi dùng làm bao bì thực phẩm.
2.Chất tráng phủ gốc nước
Có hai loại chất tráng phủ gốc nước chính là:
• chất tráng phủ gốc nước không có pigment (matt, finishing varnishes, gloss hoặc high gloss coatings).
• chất tráng phủ gốc nước có pigment (silver và gold coating hoặc Iriodin).
Nền tảng của chất tráng phủ gốc nước là các loại cao phân tử. Ngoài ra còn có thành phần các rosin tan trong nước. Dung môi của loại chất tráng phủ này là nước, và gồm nhiều phụ gia khác nhau nhằm tạo các đặc tính như: sức căng bề mặt, sự dính ướt, chống trầy xước.
Không như verni gốc dầu khô theo cơ chế oxy hóa, chất tráng phủ gốc nước hoàn toàn theo cơ chế khô vật lý: thông qua quá trình thấm hút và bay hơi dung môi là nước, các hợp chất cao phân tử sẽ tiến gần lại với nhau. Nhờ vậy mà áp lực mao dẫn tăng lên, làm cho các chuỗi cao phân tử đan xen vào nhau, tạo lập lớp màng chất tráng phủ đồng đều trên mặt tờ in.
 Thành phần Chất tráng phủ gốc nước:
Ưu điểm:
• nhanh chóng hình thành lớp phủ
• chồng giấy ra cao
• giảm lượng bột phun
• chống trầy sướt tốt
• lớp phủ khi khô không mùi
• gia công nhanh trên cấu hình máy in phù hợp
• không ảnh hưởng đến mùi vị khi dùng làm bao bì thực phẩm
• không bị hiện tượng yellowing
• độ bền cao khi dùng làm bao bì đông lạnh.
Nhược điểm
• khi khô khó tẩy bỏ, lau chùi vệ sinh thiết bị
• với giấy in định lượng dưới 90 gsm có thể xảy ra vấn đề với việc ổn định kích thước tờ in.
• không thể gia công tráng nóng (hot-calendered)
• khi tráng phủ cục bộ, phải dùng bản tráng phủ hoặc phải cắt thủ công tấm cao su.
• khó kiểm soát lượng chất tráng phủ cần dùng.
3.Các hệ thống tráng phủ
a.Hệ thống hai lô
.jpg) Hệ thống hai lô
Với cấu hình hai lô, lô máng nhúng trong máng chứa verni mở và truyền verni qua lô định lượng. Lưu lượng chất tráng phủ cung cấp phụ thuộc vào tốc độ quay cài đặt của lô máng. Mức verni trong máng chứa mở được kiểm soát bởi cảm biến siêu âm. Bơm sẽ đảm nhận việc cung cấp liên tục verni lên máng chứa.
Lượng verni truyền lên tờ in khoảng từ 3 đến 6 gsm khi ướt. Để định lượng chính xác chỉ có thể thông qua trọng lượng riêng của chất tráng phủ.
Hệ thống tráng phủ cấu hình hai lô phù cho tráng phủ toàn phần và tráng phủ cục bộ. So với hệ thống chamber doctor blade thì ứng dụng của hệ thống này kém ổn định hơn nhiều do phụ thuộc vào tốc độ và phải điều chỉnh đúng đặc tuyến bù tốc của lô máng theo chủng loại verni.
b.Hệ thống Chamber Doctor Blade (buồng kín có dao gạt)
.jpg) Hệ thống Chamber Doctor Blade (buồng kín có dao gạt)
Hệ thống này gồm hai dao gạt đối nhau trên dưới gắn trên cùng một khung tạo thành buồng kín trong đó chất tráng phủ luôn tuần hoàn. Trong khi in hai dao gạt này tiếp xúc với trục anilox, buồng chứa sẽ cấp chất tráng phủ lên bề mặt trục. Trục anilox được khắc bằng laser, phủ gốm mặt ngoài. Kích thước, hình dạng, mật độ của các đường khắc sẽ quyết định lưu lượng chất tráng phủ. Khi muốn điều chỉnh lưu lượng này thì chỉ có thể thay đổi trục anilox có các thông số phù hợp. Nhờ trục anilox này mà lưu lượng chất tráng phủ được xác định chính xác, ổn định, lớp màng tráng phủ trên tờ in đạt chất lượng cao trong suốt quá trình sản xuất.
Hệ thống chamber doctor blade phù hợp khi phủ mờ, phủ bóng, blister, phủ UV, phủ nhũ vàng, phủ nhũ bạc và các hiệu ứng đặc biệt như hiệu ứng xà cừ. Ngoài ra hệ thống này phù hợp ngay cả khi ứng dụng với các thiết kế tinh vi, phức tạp.
Khuyến cáo từ nhà sản xuất lô anilox:
• Để kết quả tráng phủ được ổn định với cùng một lưu lượng chất tráng phủ thì lô anilox cần được vệ sinh thường xuyên và ngay sau khi kết thúc công việc với nước sạch, giẻ lau ẩm sạch và lau lại bằng giẻ khô sạch. Khi vệ sinh lô phải làm sạch toàn bộ bề mặt, tránh để lại dấu vết và tránh thay đổi nhiệt độ đột ngột. Ngoài ra cũng phải thường xuyên làm sạch sâu bên dưới các đường rãnh trục anilox bằng sóng siêu âm.
• Dù vệ sinh lô anilox bằng bất kỳ phương pháp nào: siêu âm, bằng hóa chất hoặc cơ khí phải luôn nhớ rằng vệ sinh nhẹ nhàng nhưng thường xuyên.
• Luôn tuân thủ theo hướng dẫn của nhà cung cấp chất tẩy rửa và dụng cụ để vệ sinh.
• Đối với lô anilox có trục bằng nhôm thì không dùng chất tẩy rửa là kiềm, tránh làm ăn mòn trục lô.
• Lớp gốm phủ trên bề mặt của lô anilox rất cứng và có phủ lớp vật liệu để bảo vệ nhưng cũng có thể bị tác động bởi ngoại lực. Các gốc nứt vỡ nhỏ có thể trở nên lớn hơn khi in sản lượng dài.
• Không đánh dấu hoặc dùng bút bi viết lên bề mặt lô, giữ không bám dầu mỡ và tránh chạm vào bề mặt lô.
• Khi cần tháo ổ đỡ đầu lô không nên chỉ dùng lực mà phải dùng đúng dụng cụ chuyên dụng.
• Khi di chuyển hoặc khi bảo quản lô phải bộc bảo vệ bề mặt, cho vào thùng gỗ đúng kích thước, gác hai đầu lô chắc chắn.
• Bảo quản lô anilox phải tránh sự dao động nhiệt độ lớn. Giữ cho lô luôn khô ráo và phủ bảo vệ bề mặt lô tránh bám bụi bẩn.
4.Các phương pháp tráng phủ với chất tráng phủ gốc nước
a.Dùng tấm cao su
• Tấm cao su dùng để tráng phủ toàn phần và tráng phủ cục bộ đơn giản (cắt thủ công)
• Tấm cao su phải là loại chịu nén nhưng không quá mềm.
• Lớp lót phải phù hợp với loại giấy in. Đối với giấy in bề mặt nhẵn thì có thể dùng lớp lót cứng, đối với giấy in bề mặt thô nhám cần lớp lót mềm hơn.
• Khi tráng phủ cần khoảng trống (chừa mép dán), có thể cắt thủ công và lột bỏ lớp mặt cao su. Ngoài ra còn có loại cao su đặc biệt dễ dàng bốc tách lớp mặt.
.jpg) Trái: tráng phủ toàn phần Phải: tráng phủ cục bộ với tấm cao su cắt thủ công những vùng đơn giản
b.Dùng bản tráng phủ
• Tùy thuộc vào các tiêu chuẩn chất lượng, mà lựa chọn loại bản tráng phủ loại flexible hoặc dùng bản photopolymer đế kim loại.
• Sự lựa chọn lớp lót (cứng hay mềm) quyết định đến chất lượng tráng phủ.
<< Đầu < Trước 1 2 Tiếp > Cuối >> |